0

Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại

Chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí đã đầu tư vào đất mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được.

Bồi thường chi phí đầu tư còn lại vào đất (ảnh minh họa)

Bồi thường chi phí đầu tư còn lại vào đất (ảnh minh họa)

Theo quy định tại điểm 13 Điều 3 Luật đất đai năm 2013: Chi phí đầu tư vào đất còn lại bao gồm chi phí san lấp mặt bằng và chi phí khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được.

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thì trường hợp áp dụng việc bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là các trường hợp quy định tại Điều 76 của Luật Đất đai.

Theo khoản 2 Điều 3 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, chi phí đầu tư vào đất còn lại là các chi phí mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất nhưng đến thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất còn chưa thu hồi hết. Chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm toàn bộ hoặc một phần của các khoản chi phí sau:

(1) Chi phí san lấp mặt bằng;

(2) Chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp;

(3) Chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh;

(4) Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất.

Điều kiện xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại:

* Hồ sơ, chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất gồm các giấy tờ sau đây:

(1) Văn bản, hợp đồng thuê, khoán san lấp mặt bằng, tôn tạo đất đối với đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê, cải tạo đất, chống xói mòn, chống xâm thực, xây dựng, gia cố nền đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh;

(2) Văn bản, thanh lý hợp đồng; hóa đơn, chứng từ thanh toán đối với từng khoản chi phí đã đầu tư vào đất quy định tại Điểm a Khoản này;

(3) Văn bản, hợp đồng khác có liên quan đến việc đầu tư vào đất được xác lập tại thời điểm đầu tư.

Trường hợp người có đất thu hồi không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT, nhưng thực tế đã có đầu tư vào đất thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) căn cứ tình hình cụ thể tại địa phương quyết định việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại.

* Chi phí đầu tư vào đất không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước:

Cách tính:

Chi phí đầu tư vào đất còn lại được tính phải phù hợp với giá thị trường tại thời điểm có quyết định thu hồi đất và được xác định theo công thức sau:

Trong đó:

P: Chi phí đầu tư vào đất còn lại;

P1: Chi phí san lấp mặt bằng;

P2: Chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp;

P3: Chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh;

P4: Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất;

T1: Thời hạn sử dụng đất;

T2: Thời hạn sử dụng đất còn lại.

Đối với trường hợp thời điểm đầu tư vào đất sau thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thì thời hạn sử dụng đất (T1) được tính từ thời điểm đầu tư vào đất.

Theo khoản 4 Điều 3 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT, công thức tính chi phí đầu tư vào đất còn lại chúng ta cần lưu ý là:

(1) Việc xác định giá trị các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại phải căn cứ vào đơn giá, định mức kinh tế kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;

(2) Đối với khoản chi phí đầu tư vào đất mà việc đầu tư thực hiện trong nhiều lần, nhiều năm thì khi xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại được cộng dồn chi phí của tất cả các lần, các năm đó.

So với các quy định trước đây (khoản 3 Điều 9 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP) có quy định chi phí đầu tư vào đất còn lại nhưng còn chung chung, chưa cụ thể rõ ràng cũng như cách tính chi phí. Hiện nay, kế thừa và đáp ứng yêu cầu thực tiễn đề ra và nhằm đảm bảo được lợi ích của người có đất bị thu hồi, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ra đời và xác định cụ thể hơn các loại chi phí và hướng dẫn cụ thể việc tính chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Trên đây là nội dung bài viết liên quan đến chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, các bạn có thể xem thêm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hoặc truy cập thêm Website banquantam.com để xem bài viết có liên quan. Nếu có vấn đề liên quan cần trao đổi đến nội dung bài viết vui lòng để lại tin nhắn, tôi sẽ chia sẽ cùng với bạn sau. Xin cảm ơn các bạn đã quan tâm đến nội dung bài viết./.

Anh Tài.

admin

Leave a Reply

avatar
  Theo dõi  
Nhận thông báo